Âm – Dương Của Bát Quái Mà Bạn Nên Biết Để Làm Ăn Thịnh Vượng

145

Các nhà thiên văn cổ đại dùng 6 hào dương của quẻ càn ứng với 6 tháng lẻ (dương) và dùng 6 hào âm của quẻ khôn ứng với 6 tháng chẵn (âm) của 1 năm gọi là thuyết “hào thìn” (hào thòi). Bài viết dưới đây nói về âm – dương của bát quái.

1. Phương pháp nạp chi của bát quái.

Hào đầu của quẻ càn là tý, hào hai là dần, hào ba là thin, hào bốn ìà ngọ, hào năm là thân, hào sáu là tuất, ứng vỏi tháng 11 là tý, tháng giêng là dần, tháng 3 ỉà thin, tháng 5 là ngọ, tháng 7 là thân, tháng 9 là tuất.

Hào đầu của quẻ khôn là mùi, hào hai là tỵ, hào ba là mão, hào bốn ỉà sửu, hào năm là hợi, hào sáu là dận. ứng vổi tháng 6 là mùi, tháng 8 là dậu, tháng 10 là hợi, tháng 12 là sửu, tháng 2 là mão và tháng 4 là tỵ.

Đó là phương pháp nạp chi của 2 quẻ càn và khôn Còn 6 quẻ thuần khác căn cứ nạp chi như sau:

– Quẻ chấn là trưởng nam nên lấy hào đầu của quẻ càn nạp cho hào đầu của quẻ chân rồi lấy cách nạp chi cho các hào hai, hào ba… theo chiều thuận.

– Quẻ khảm là trung nam nên lấy hào hai của quẻ càn nạp cho hào đầu của quẻ khảm rồi cứ cách chi cho hào hai, hào ba… theo chiều thuận. Vì vậy hào đầu của khảm nạp dần, hào hai là thìn…

– Quẻ cấn là thiếu nam nên lấy hào ba của quẻ càn nạp cho hào đầu của quẻ cấn rồi cách nạp chi cho các hào sau theo chiều thuận. Vì vậy hào đầu của quẻ cấn nạp thin, hào hai nạp ngọ.

– Các hào âm theo quy tắc nạp ngược chiều cả về thứ tự của địa chi cả về thứ tự quẻ từ thiếu nữ, trung nữ đến trưởng nừ. Vì vậy quẻ đoài là thiếu nữ nên lấy hào đầu của quẻ khôn nạp cho quẻ thượng của quẻ đoài tức là hào thượng của quẻ đoài là mùi, rồi cách chi theo chiều thuận, nạp cho các hào theo chiều ngược hào năm là dậu, hào bôn là hợi, hào ba là sửu, hào hai là mão, hào sơ là tỵ.

– Quẻ ly là trung nữ nên lấy hào hai của quẻ khôn nạp cho hào thượng của quẻ ly, rồi cách chi theo chiều thuận nạp cho các hào theo chiều ngược, tức là hào thượng là tỵ, hào năm là mùi, hào bôn là dậu, hàô sơ là mão.

– Quẻ tốn là trưởng nữ nên lấy hào ba của hào khôn nạp cho hào thượng của quẻ tốn rồi cách chi theo chiều thuận nạp cho các hào theo chiểu ngược, tức là hào thượng là mão, hào năm là tỵ… hào sơ là sửu.

59 quẻ còn lại thì quẻ nội nạp theo quẻ nội của quẻ thuần của quẻ nội, quẻ ngoại nạp theo quẻ ngoại của quẻ thuần của quẻ ngoại.

>>> Nếu bạn đang quan tâm về két sắt thì hãy xem ngay góc tư vấn tại két sắt toàn cầu để hiểu rõ hơn về két sắt.

2. Phương pháp nạp can của bát quái

Phương pháp nạp can của bát quái là dựa vào tượng của trăng tròn, trăng khuyết thượng huyền, hạ huyền nhìn thấy vào các buổi hoàng hôn và bình minh hàng tháng để nạp can, nên càn nạp giáp và nhâm tức là quẻ nội nạp giáp, quẻ ngoại nạp nhâm, khôn nạp ất và quý tức là quẻ nội nạp ất, quẻ ngoại nạp quý, khảm nạp mậu, cấn nạp bính, tôn nạp tân, ly nạp kỷ, đoài nạp đinh.

3. Phương pháp nạp lục thân

Mỗi quẻ có 6 hào, 6 hào được nạp chi, nạp can, nạp lục thân và nạp lục thần.

Lục thân là phụ mẫu, huynh đệ, tử tôn, thê tài, quan quỷ và thân quẻ.

Nguyên tắc: Phụ mẫu sinh huynh đệ, huynh đệ (= thân) sinh tử tôn, tử tôn sinh thê tài, thê tài sinh quan quỷ, quan quỷ sinh phụ mẫu. Sinh nghĩa là hành của thân này sinh ra hành của thân kia.

Hành của quẻ kép là hành của quẻ thân, hành của thân ngang với hành của huynh đệ, nên hành của hào huynh đệ là hành của quẻ kép. Từ hào huynh đệ rồi nạp các hào khác theo nguyên tắc sinh khắc của ngũ hành nói trên.

4. Nạp lục thân của quẻ biến

Khi có hào động thì hào biến và quẻ cũng biến. Quẻ biến được nạp can, nạp cho theo nguyên tắc nạp can nạp chi của 64 quẻ. Còn nạp lục thân thì sinh khắc vẫn theo nạp lục thân của 64 quẻ nhưng hành của lục thân của quẻ biến lại nạp theo hành của quẻ chủ.

Cùng một quẻ Lôi thủy giải mà nạp lục thần khác nhau. Một bên thì quan quỷ tuất thổ, một bên thì thê tài tuất thổ.

Trên đây là một số phương pháp nạp chi, nạp can, nạp lục trong âm – dương của bát quái mà bạn có thể tham khảo. Hy vọng có thể giúp bạn thu lại vận may trong công việc và cuộc sống.

Bình luận

Bình luận

Đánh Giá
Chia sẻ