Xem Ngay: Top 8 Nội Dung Về Ngũ Hành Trong Phong Thủy, Ít Ai Biết

108

Ngũ hành trong phong thủy là yếu tố không thể bỏ qua đối với những người muốn tìm hiểu về thuật phong thủy. Vì thế, bài viết dưới đây sẽ cung cấp nội dung liên quan về chúng nhằm giúp bạn có cái nhìn khách quan hơn.

1. Học thuyết ngũ hành trong phong thủy

Học thuyết ngũ hành sớm nhết thấy ở sách “Thượng thư – Hồng Phạm” nói: “Ngũ hành : một là Thủy, hai là Hỏa, ba là Mộc, bốn là Kim, năm là Thổ.

Thủy trắng ướt chảy xuống, Hỏa nóng bốc lên, Mộc cong thẳng, Kim theo sự biến hóa, Thổ ưa đồng áng”.

Giứa ngũ hành với nhau cổ tương sinh tương khắc : Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc; Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ) Thổ khẳc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Học thuyết ngũ hành vốn có tư tưởng phép biện chứng đơn giản và đã quán xuyến ở các hiện tượng tư duy cổ đại trên các lĩnh vực.

Thuật phong thủy cho rằng tướng đất ảo diệu, tất cả là trong ngũ hành. Hình thế núi khe có cong có thẳng, có vuông có tròn, có rộng có hẹp đầu có ngũ hành.

Khái quát cái cần, đo lường cái “khí”, kiểm nghiêm cái “chất là được. Chất do khí thành, khí đi trong chất. Địa lý thiên biến vạn hóa, cái chốt là ở khí của ngũ hành.

>>> Xem ngay: Loại bỏ những điều làm bận lòng một lần và mãi mãi theo thuật phong thủy.

2. Khẩu quyết chính của ngũ hành trong phong thủy

2.1. Chính ngũ hành khẩu quyết

Chính ngũ hành khẩu quyết nói : phương Đông : Mộc, phương Nam : Hỏa, phương Tây : Kim, phương Bắc : Thủy, ở trung tâm : Thổ.

Chính ngũ hành dùng để định hướng vị.

2.2. Bát quái ngũ hành khẩu quyết

Bát quái ngũ hành khẩu quyết nói :

  • Chấn, Canh, Hợi, Mùi, Tốn, Tân : mộc
  • Càn, Giáp, Đoài, Đinh, Ty, Sửu : kim
  • Khảm, Quý, Thân, Thìn : thủy
  • Ly, Nhâm, Dần, Tuâ’t: hỏa
  • Khôn, Ât, Cán, Bính : thổ.

Bát quái ngũ hành có “tư hình cục”. Đó là lấy bát quái phối hợp với (thiên) can, (địa) chi mà luận ra các điều sở thuộc.

Chấn thuộc Mộc, Canh nạp phối với Chấn, Hợi chu hợp với Chấn, như vậy Canh, Mùi thuộc Mộc.

Tốn thuộc Mộc, Tân nạp phối với Tốn, như vậy Tần cũng thuộc Mộc.

Càn thuộc Kim, Giáp nạp phối với Càn, như vậy Giáp thuộc Kìm.

 Đinh nạp phối với Đoài, Tỵ, Sửu hợp với Đoài, như vậy Đinh, Ty, Sửu cũng thuộc Kim.

Khảm thuộc Thủy, ngoài âm mà trong lại dương, như vậy ba “hào” ngoài của Khảm phối với Quý mà Quý cũng thuộc Thủy, Thân, Thìn vì hợp với Khảm mà thuộc Thủy.

Ly thuộc hỏa, ngoài dương mà trong âm, như vậy ba hào bên ngoài của Càn phối hợp với Nhâm mà Nhâm củng thuộc Hỏa, Dần, Tuất vì hợp với Ly mà thuộc Hỏa.

Khôn thuộc Thổ, Ất nạp phối với Khôn như vậy Ất cũng thuộc Thổ.

Cấn thuộc Thổ, Bính nạp phối với Cấn như vậy Bính cũng thuộc Thổ.

2.3. Tông miếu ngũ hành khẩu quyết

Hồng Phạm ngũ hành cũng gọi là Tông miếu ngú hành khẩu quyết nói : “Giáp, Dần, Thìn, Tốn đại giang thủy; Tuất, Khảm, Thân, Tần thủy diệc đồng; Chấn, Cấn, Tỵ tầm nguyên thuộc Mộc; Ly, Nhâm, Bính, Ất hòa vị đông; Đoài, Đinh, Càn, Hợi, Kim sinh xứ; Sửu, Quý, Khôn, Canh, Mùi thổ trung’.

Hồng Phạm ngũ hành lấy sơn âm đến cùng, lấy bát quái để giao thông, diễn biến và kéo ra đến 24 vị trí biến hóa của ngũ hành.

Nói bát quái giao thông thì vô cùng phức tạp, do “hào” biến hóa thành, Giáp vốn thuộc thể, nạp vào Càn cung và Khôn giao, lấy 2 hào ở trên, dưới Khôn cũng giao hoán với 2 hào ở trên, dưới Càn hóa thành tượng Khảm; Giáp tùy Khảm hóa, bèn thuộc Thủy.

Ất vốn thuộc Mộc, nạp với Khôn cung và Càn giao, lấy 2 hào ở trên, dưới Càn, giao hoán với 2 hào ở trên, dưới Khôn hóa thành tượng Ly, Ất chịu Ly hóa bèn thuộc Hỏa.

Bính vốn thuộc Hỏa, nạp vào cung Cấn, Cấn đối lại Đoài, lấy hào dưới của Đoài giao hoán với hào dưới của Cấn hóa thành tượng Ly. Bính theo Ly hóa, bèn thuộc Hỏa.

Đinh vốn thuộc Hỏa, nạp phối cung Cấn, Cấn và Đoài đối nhau, lấy hào trên của Đoài, giao hoán với hào trên của Cấn hóa thành tượng Càn. Đinh chịu Càn hóa, bèn thuộc Kim.

Canh chịu Khồn hóa bèn thuộc Thổ. Tân vốn thuộc Kim, nạp phối với Tốn, Tốn và Chấn đối nhau, lấy hào trên của Chấn giao hoán với hào trên của Tốn hóa thành tượng Khảm. Tán chịu Khảm hóa, bèn thuộc Thủy.

Nhâm vốn thuộc Thủy nạp phối với Ly, Ly và Khảm đốì nhau, lấy hào gỉữa của Ly giao hoán với hào giửa của Khảm hóa thành tượng Càn.

Nhâm chịu Càn hòa vốn đang thuộc Kim nhân đó nạp vào Ly Hỏa, Hỏa diệm Kim tiêu (lửa cháy kim loại tiêu) không thể tự lập được, lùi lại để phụ thuộc vào Ly, bèn thuộc Hỏa.

Quý vốn thuộc Thủy nạp phối vđi Khảm, Khảm và Ly đối nhau, lấy hào giữa của Ly, giao hoán với hào giữa của Khảm, hóa thành tượng Khôn. Quý chịu Khôn hóa, bèn thuộc Thổ.

3. Các khẩu quyết khác của ngũ hành trong phong thủy

3.1. Tứ kinh ngũ hành trong phong thủy

Mộc ở Đổng, Hỏa ở Nam, Kim ở Tầy, Thủy ở Bắc, đầu có chỗ đó, duy Thổ khổng thuộc 4 phương mà ở cung giứa.

Thuật phong thủy giảng cứu về tọa sơn, hướng thượng, bỏ qua trung cung (cung giữa). Vì ngũ hành mà thực tế chỉ dùng có 4 hành nên gọi là tứ kinh ngũ hành.

3.2. Tam hợp ngũ hành trong phong thủy

Do trong tứ kinh lấy các loại hợp mà được tên.

Dần, Ngọ, Tuất hợp thành Hỏa cục; Ty, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục; Thân, Tý, Thìn hợp thành Thủy cục; Tân, Mão, Mùi, hợp thành Mộc cục.

Do mộ sinh vượng kết hợp ba phương mà thành, nên thành tên tam hợp ngũ hành.

3.3. Tứ sinh ngũ hành trong phong thủy

Tứ “ngung” (nơi ở mép góc, ven rìa – ND chú) có 4 trường sinh.

Giáp Mộc trường sinh ở Hợi; Bính Hỏa trưởng sinh ở Thìn; Canh Kim trường sinh ở Ty; Nhâm Thủy trường sinh ở Thân.

Ất Mộc trường sinh ở Ngọ; Đinh Hỏa trường sinh ở Dậu; Tân Kìm trường sinh ở Tý; Quý Thủy trường Binh ở Mão.

3.4. Song sơn ngũ hành trong phong thủy

Hai chữ cùng cung hợp Can, Chi lầy nạp âm ngũ hành làm tiêu chuẩn.

Như Cấn, Bính, Tân hợp với Dần, Ngọ, Tuất là Liêm Trinh Hỏa; Tốn, Canh, Quý hợp với Ty* Dậu, Sửu thành Vú Khúc Kim; Khôn, Nhâm, Ất hợp với Thân, Tý, Thìn thành Văn Khúc Thủy.

Càn, Giáp, Ất hợp với Tân, Hợi, Mão thành Tham Lang Mộc đều thuộc 2 chữ (cùng cung) hợp thành 1 cung nên tên cũ đặt là song sơn ngũ hành.

3.5. Huyền không ngũ hành trong phong thủy

Lấy sinh mà nhập khắc nhập, sinh mà xuất khắc để định lành dữ.

“Huyền “vì thần minh biến háo, “Không” vì chẳng nơi nào dựa dẫm. Lập huyệt định hướng toàn bằng phép ’’thủy” hư linh, “thùy”, tính huyền không.

Có lời quyết nói: ”Bính, Đinh, Ất, Dậu nguyên thuộc Hỏa; Càn, Khôn, Măo, Ngọ (với) Kim cùng sinh; Hợi, Quý, Cấn, Giáp là Mộc thần; Tuất, Canh, Sửu, Mùi (cùng) Thổ là thật; Tý, Dần, Thìn, Tốn, Tân Kiêm Ty; Thân với phương Nhâm là Thủy thần”.

Ngoài ra còn có ngũ hành hướng thượng, nạp âm ngũ hành, tinh độ (đổ sao) ngũ hành, Hỗn thiên ngũ hành, Hà đồ ngũ hành, Tú (sao) độ ngũ hành, Giáp Tý ngũ hành, Thiên Can ngũ hành, Địa chi ngũ hành… không sao kể xiết.

4. Ngũ hành trong phong thủy là cương lĩnh của âm dương

Nhà phong thủy cho rằng, ngũ hành là cương lĩnh của âm dương, là quyền hành của tạo hóa.

Bởi cát (bạt sa) phóng nước (phóng thủy) tìm phương (biện phương) lập hướng (định hướng) đều phải dựa vào ngũ hành.

Lưu Cớ trong cuốn “Kham dư mạn hứng” đã thuật là : “Hình thể Kìm tinh thật tròn xoay; cung dương thẳng cánh nửa vầng trăng. Đẹp đẽ một đời người trung nghĩa; oai hùng uy vũ nắm binh quyền.

Mộc tinh cao vót vạn người kinh; đổ đất người xem cầy ngã rạp. Có thủy sai người thân quý hiển; theo tà chẳng chính liệu thụ hình (phạt).

Ngập trời sao Thủy sóng gầm gào. Rơi xuống biển bằng cuộn rắn xanh; khéo léo thông minh nhiều độ lượng, dĩ nhiên chẳng đánh bại người lành.

Sao Thổ cao to dày mà nhọn; bình phong mở rộng tựa sóng trào. Nếu ở hậu long kiêm chiếu huyệt; cha con, huynh đệ thấy nền quan.

Hỏa tinh làm tổ tựa hoa sen; tham lớn nơi nhà quan tể tướng, chỉ có mở hông cùng mở huyệt; ngay giữa đất bằng nẩy chồi xanh.

Hỏa Nam, Thủy Bắc, Mộc ỏ Đông; Tây có sao Kim, Thổ ở trong. Đúng chỗ nõm sao tụ lại giảng; trời cho chính khí phúc vô cùng”.

Họa phúc của con cháu đều quyết định do ngũ hành của việc tổng táng. Ngũ hành thịnh, con cháu lớn mạnh, ngũ hành “thôi” (suy) con cháu tàn lụi.

Như vậy, ngũ hành trong phong thủy có những cách nhìn trong các sách cổ cũng khác nhau. Rất khó để biết bên nào đúng bên nào sai. Nhưng chắc hẳn những kiến thức trên không hề thừa thãi chút nào.

Bình luận

Bình luận

Đánh Giá
Chia sẻ